GIÁO LÝ BÍ MẬT VỀ THÂN-TRUNG-ẤM
Đối với người tu tập thuần thành thì cái CHẾT thực sự không phải là chết
Mà là con đường dẫn đến sự giác ngộ viên mãn
Copy @1998 by Nguyễn Pram
All Rights Reserved
Ai là người trí phải nên khéo điều phục cái tâm của mình phải luôn quán sát Tánh Không (sumyata) và Diệu Hữu (Amogha) của bản tâm và vạn pháp. Không ai có thể cứu chúng ta khỏi cảnh giới khổ đau, phiền não, nếu chính bản thân chúng ta cứ mãi bo bo ôm ấp, nâng niu chìu chuộng cái vỏ Ngã Pháp được tô điểm bởi Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Tà Kiến, và Đố kỵ.
Lời nói đầu
Thể gian lìa sanh diệt
Trí chẳng thấy có không
Tất cả pháp như huyễn
Trí chẳng thấy có không
Biết nhơn pháp vô ngã
Thường thanh tịnh không tướng
Tất cả không Niết-bàn
Không có Phật Niết bàn
Hoặc có hoặc không có
Quán Mâu-Ni tịch tĩnh
Ấy gọi là chẳng thủ
Ví như hoa hư không
Mà khởi tâm đại bi
Xa lìa nơi tâm thức
Mà khởi tâm đại bi
Phiền não và sở tri
Mà khởi tâm đại bi
Không Niết-bàn của Phật
Xa lìa giác sở giác
Cả hai thảy đều lìa
Thế là xa lìa sanh
Đời nầy đời sau tịnh.
Cúi đầu đảnh lễ đức Tỳ-lô Giá na Như Lai (Vairocana Tathagata): thiên bá ức (10.000.000.000) Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn (Shakyamuni Buddha) Giáo chủ cõi Kham-Nhẩn (Saha) nầy, đức Đại-từ-bi tiếp dẫn cõi Tây-phương tam thập lục vạn ức, nhứt thập nhứt vạn cửu thiên ngũ bá (36.000.000.119.500) đồng danh đồng hiệu A-Di-Đà-Phật (Amitabha Buddha), đức Kim-Cang Tát-Đỏa Bồ tát Ma-ha-tát (Vajrasattva), đức Thất-Cu-Chi (Koti), Phật Mẫu Chuẩn-Đề (Cunde) Vương Bồ-Tát Ma-ha-tát, đức Vế-Tích Kim-Cang Bồ-Tát Ma-ha-tát, liệt vị tổ sư, chư A-xà-lê, mười phương khắp cõi Phật sát vi trần số, quá khứ, hiện tại, và vị lai các ngôi Tam Bảo vô số vô tận đều chứng biết, và kính xin rủ lòng thương xót từ bi nhiếp thọ lời cầu của con. Con nay dối đem kiến thức phàm phu trong đời Mạt pháp để soạn sách nầy, sợ không được hợp Thánh ý của chư Phật, xin cho con được chí thành sám hối. Ngưỡng vâng sức đại oai thần của ngôi Tam Bảo gia hộ cho kẻ đệ tử được thành Thánh trí, nếu hợp Thánh ý dù chỉ là một phần nhỏ như hột cát hột bụi, trọn đem công đức đó hồi hướng đến tất cả loài hàm linh, nguyện đời nầy chóng dứt phiền não, đời sau không lâu đồng chứng ngôi Tỳ-lô Giá-na Tam-thân Phổ-Quang-Địa, khi mãn báo thân lập tức vãng sanh về thế giới Cực-lạc của Phật A-Di-Đà, hoặc tùy nguyện vãng sanh về mười phương Tịnh độ của chư Phật.
Những pháp môn cao siêu dựa vào các kinh Viên-Giác, Hoa-Nghiêm, Pháp-Hoa, Bát-Nhã Ba-La-Mật, Tâm-Địa-Quán, Thủ-Lăng-Nghiêm, Lăng-Già Tâm-Ấn, Kim-Cang v.v… ngày nay rất khó có người tu theo. Vì sao? Bởi vì các kinh văn nầy phần nhiều chỉ thẳng cảnh giới bất-tư-nghì của Như Lai, nhưng xét kỹ ra chúng ta ngày nay phần đông đều là những người có trình độ tâm linh thuộc vào hàng trung hoặc hạ căn, nên không thể nào lãnh hội thấu đáo cho được. Để đến nỗi khi nghiệp đến, duyên tan thì ai nấy đều hoảng sợ trước cái chết. Trong những người tu theo pháp môn Tịnh Độ, thì có những vị nhiệt tâm rất cao, nhưng không được hướng dẫn kỹ càng khi “hộ niệm”, cho nên tốn công sức mà chẳng giúp ích gì mấy cho vong nhân.
Vả lại, gần đây những kẻ ngoại đạo mặc áo sa-môn trá hình trong Phật giáo, chúng chống đối lẫn nhau, chia bè lập phái phá hoại nhau, không hành Lục Hòa, không giữ đạo nghi, lại thường chấp “không”, bài xích nhân quả, chê bai nghiệp báo, vọng thuyết cuồng ngôn, buông lời điên đảo cho rằng tu lai rai, đặt hết lòng tin vào vị Đạo-sư thì cũng thành Phật cần gì phải tu Chỉ, tu Quán! Đám cuồng ngu nầy càng ngày càng nổi lên như nấm, mọc lên như cỏ dại, khiến cho ai là người có tâm hộ trì Phật pháp phải rơi lệ chan hòa! Âu cũng là duyên nghiệp, sanh ra ở thời Mạt-pháp thì phải nhìn thấy cảnh chướng tai gai mắt vậy.
Vì không biết phương tiện độ sanh nên phần nhiều chư vị tu theo Thiền-môn, cũng như các ác Sa-môn trá hình ngày nay thường chê trách việc cứu độ Thân-Trung-Ấm. Họ viện cớ là tốn thời giờ! Cho dù có đi làm ma chay thì cũng làm cho qua loa.
Hỡi các bậc trí giả, chư vị là sứ giả của Như Lai, khoác áo Như Lai, học hạnh của chư Phật, Bồ tát, cần khổ vì chúng sanh, sống nhờ vào đàn na tín thí, lại nỡ nào viện hết cớ nầy đến cớ nọ để từ chối không chịu cứu giúp vong nhân khiến cho người sống đau buồn, người chết uất ức. Phải đợi đến khi người ta cầu thỉnh, trăm lễ lạy lục coi như bậc Thánh sống mới chịu ra tay tế độ ư? Đại-bi-tâm thương xót chúng sanh như con đỏ, không bỏ chúng sanh của các Ngài để ở đâu? Đại-từ-bi tâm cứu vớt và an lập chúng sanh nơi Vô-thượng Bồ-đề của các Ngài để chỗ nào? Đại-thệ-nguyện hộ trì Phật pháp chẳng tiếc thân khiến cho Phật pháp bất diệt cửu trụ ở đời của các Ngài để ở đâu?Quí Ngài có thể dối người, dối mình, chớ làm sao dối được Thần thức của vong nhân về Đạo lực của mình, và trước chư Phật, Bồ tát, cùng các bậc Thần linh trong Pháp giới, vậy thử hỏi làm thế nào quí Ngài có thể che dấu chỗ ích kỷ, và biếng nhác của mình cho được?
Vì xa rời Phật pháp nên họ phỉ báng lời chư Phật, Bồ tát dạy nơi các tôn kinh Địa Tạng, Dược Sư, A Di Đà, Hoa Nghiêm, Bảo Tích, Tỳ Lô Giá Na Phật Đại Quán Đảnh Quang Chân Ngôn, Đại Bảo Quãng Bát Lầu Cát Thiện Trụ Bí Mật Đà La Ni, v.v… Nên nhớ, các bậc chân sư không những hoằng dương Chánh pháp để hướng dẫn người sống, mà còn biết phương tiện để hướng dẫn cho người chết. Có như vậy mới nói lên cái ý nghĩa trọn vẹn của câu: “Sanh tử và Niết bàn đâu phải là hai.” Đây là chỗ đặc thù của Phật gia, trái lại, bọn tà sư, ngoại đạo, chỉ biết hứa suông, hứa cuội với đám tín đồ điên đảo, si mê về một thiên đàng không tưởng, rồi đồng kéo nhau vào chốn U minh không biết đến bao giờ mới thoát ra được.
Xét rằng, không ai mà chẳng chết, nếu chết mà không biết phương pháp để tự giác ngộ, hoặc siêu sanh về Tịnh độ của mười phương chư Phật thì chẳng hóa ra mình là đứa ngu ư. Hễ ngu thì làm sao gọi là người trí, mà trong Phật pháp hễ không có trí tuệ thì dù rằng chết có để lại vài ba bài kệ để hù kẻ hậu sanh, hoặc lưu lại “xá lợi năm sắc” đi nữa cũng chỉ là việc trong mộng nào có ích chi!
Khi một người mãn nghiệp thì phải chết, phàm phu gọi đó là cái chết bình thường, hợp lẽ tự nhiên. Nhưng nếu lấy trí nhãn mà nhìn thì cái chết không phải đơn giản như nhiều người thường tưởng, cũng không phải “chết là hết”, như sự chủ trương của bọn người Duy Vật. Đối với người tu theo đạo Vô Thượng Bồ đề thì ba giai đoạn: Đương lúc chết, đời sống sau khi chết, và sự tái sanh tầm thường cần phải được chuyển hóa để đồng nhứt với Tam thân của Như Lai. Đây là chỗ khác biệt lớn lao giữa Mật giáo và Hiển giáo. Đây là chỗ mà ngoại đạo dù có tử công phu suy tìm cũng không thể nào hiểu thấu.
Đường lối tu hành của Mật giáo, có thể nói đến 70 phần trăm là chú trọng đến sự chuyển hóa toàn diện ba giai đoạn: Đương lúc chết, đời sống sau khi chết và sự tự tại tái sanh, còn 30 phần trăm khác là tu tập để hiệp nhứt với Tam thân của Như Lai khi còn sống! Cuộc đời của một bậc Du già hành giả không phải chấm dứt khi vị ấy trút hơi thở cuối cùng như nhiều người lầm tưởng!
Thế nên, Tổ Ti-Lô-Pa xưa có lời “cái chết thực sự không phải là chết mà là con đường dẫn đến sự giác ngộ viên mãn.”
Ôi! Đối với hàng cụ phược phàm phu thì cái “CHẾT” quả là thống khổ, kinh hoàng, nhưng chết thật sự là gì?
Khi một người chết có nghĩa là Lục đại của kẻ đó lần lần bị hòa tan vào với Lục đại của pháp giới, ở đây màu sắc, tôn giáo, giàu nghèo, sang hèn v.v… không có gì khác biệt nhau cả. Người đang chết sẽ thấy những dấu hiệu chắc chắn xảy ra bên trong cũng như bên ngoài. Những dấu hiệu kia có liên quan vô cùng mật thiết đối với sự tan biến của các Đại. Đầu tiên, người ấy thấy một dấu hiệu nó giống như một ảo ảnh, như sóng nước xa xa trên mặt đường tráng nhựa, như nước giữa sa mạc lúc trưa hè nóng bức, đó là do Địa đại hòa vào Thủy đại. Nói là Đại nầy tan biến vào Đại kia là cho dễ hiểu, chớ kỳ thật thì thế lực của Đại trước bị Điạ sau lấn áp mà thấy như vậy, chẳng hạn như trong đời, nếu Thủy đại lấn áp Hỏa đại nhẹ thì xổ mũi, tiêu chảy, ói mửa, thân thể càng ngày càng phát phì, phát trướng v.v… nặng thì bỏ mạng! Một khi Hỏa đại lấn áp Địa đại và Thủy đại nhẹ thì chóng mặt, nhức đầu, táo bón, thân thể càng lúc càng tiều tụy v.v… nặng thì hoa mắt, điên khùng, máu tai, máu mũi, máu miệng trào ra, không lâu quyết sẽ bỏ mạng! Thức cũng vậy, nó càng lúc càng vi tế hơn khi đương chết so với lúc còn sanh thời.
Tiến trình của cái CHẾT có tám (8) giai đoạn:
- Địa đại tan biến vào Thủy đại.
- Thủy đại tan biến vào Hỏa đại
- Hỏa đại tan biến vào Phong đại
- Phong đại tan biến vào Hư không đại
- Hư không đại tan biến vào Thức đại
- Giọt trắng của Bồ đề tâm (tinh cha khi mới thọ thai, từ đảnh đầu đi xuống hướng trái tim.)
- Giọt đỏ của Bồ đề tâm (huyết Mẹ khi mới thọ thai, từ đan điền đi lên hướng trái tim)
- Giọt đỏ và giọt trắng gặp nhau tại trái tim tại giọt bất hoại, kinh nghiệm tối xầm, rồi ánh sáng tràn ngập và Thần thức theo một trong những cửa mở sẵn tùy theo nghiệp mà bỏ thân cũ để thọ thân Trung ấm sau khi chết (Trung Hữu).
Ngay lúc nguyên khí (cũng gọi là gió vi tế) tan biến vào Thức đại thì người hấp hối sẽ ngưng hô hấp… Bên trong thì người chết thấy những đốm sáng chập chờn như đôm đốm… Nếu người chết sẽ bị đọa vào ba đường dữ, thì đầu tiên hơi ấm của nửa thân phía trên sẽ lần lần tan mất. Trái lại, nếu sanh về ba đường lành thì đầu tiên hơi ấm của nửa thân phía dưới sẽ lần lần tan mất. Nếu người chết sanh về Thánh giới như các cõi Tịnh độ thì hơi ấm cuối cùng sẽ ra từ cửa thanh tịnh ở trên đảnh đầu…
Thế nên, ai là người muốn giải thoát mình và chúng sanh ra khỏi chốn sanh tử luân hồi thì hãy nhiếp tâm, tịnh ý mà học tập theo sách nầy.
Cứu độ Thân trung ấm vốn là một pháp môn của Mật tông, nó được truyền từ kim khẩu của một bậc Đạo sư, A-xà-lê, xuống đến người đệ tử thụ pháp, mà không được viết lại thành sách bởi vì các bậc Đạo sư e sợ ba điều:
- Những kẻ ngu si, hoặc những người tà kiến chỉ biết căn cứ vào chữ mà giải thích khiến cho chân nghĩa bị lãng quên.
- Bóp méo sự thật về Mật tông, khiến chúng sanh bị tội khổ.
- Ỷ lại sách nầy mà phế bỏ công phu tu tập. Trên căn bản pháp môn cứu độ Thân trung ấm nầy bao hàm cả Thai tạng và Kim Cang giới.
Pháp môn thù thắng nầy được truyền sang Việt Nam có lẽ vào khoảng thế kỷ thứ V-VI, do đức Tỳ-ni-đa-lưu-chi, chỉ có phần đầu và nửa phần giữa, nghĩa là chư A-xà-lê ở Việt Nam chỉ truyền cho chúng đệ tử giáo lý về Tử hữu và Trung hữu. Như vậy thiết nghĩ cũng quá đầy đủ rồi. Thế nên, bản thân Mạt nhân chỉ biết được có chừng bấy nhiêu thôi.
Ở Ấn Độ, sách nầy được Ngài Liên Hoa Sanh (Padma Sambhava) viết vào thế kỷ thứ VIII-IX cho các đệ tử người Ấn Độ và Tây Tạng, sau đó ngài Liên Hoa Sanh giấu pháp môn nầy ở một nơi rất kín, mãi đến thế kỷ thứ XIV thì đức Karma Lingpa tìm được. Trong đó có cả bức mạn-đà-la bí mật của 48 vị Thiện thần và 52 vị Hung thần, còn các vị Trì minh vương và Trì Minh Phi thì không thấy nói đến (đây là một bộ phận của hai Mạn đà la Vương Thai Tạng và Kim Cang, hai giới nầy không được các Phật tử Tây Tạng chú trọng như ở Việt Nam, Nhựt Bản và Java). Phần thứ ba của sách Thân Trung Ấm đặt căn bản hoàn toàn trên Guhysamaja-Tantra. Kinh văn nầy không được truyền sang Việt Nam. Theo ngu ý thì phần thứ ba là một sáng tạo độc đáo của đức Liên Hoa Sanh vậy.
Thoáng một cái đã hai mươi năm rồi, trước khi xuất dương, A xà lê của Mạt nhân có huyền ký là, phần cuối của giáo lý Thân Trung Ấm sẽ được một vị Lạt Ma người Tây Tạng giới thiệu. Mạt nhân rất lấy làm lạ vì bản thân không biết tiếng Tây Tạng, cũng không biết tiếng Anh Cát Lợi, với số vốn rất hạn chế về Cổ Phạn thì làm sao có thể học được. Nhưng rồi, chuyện đâu cũng vào đó, sang đến Hoa Kỳ Mạt nhân có viếng trung tâm Phật giáo Tây Tạng vào năm 1987 để bái kiến phương trượng Khempo Rinpoche, Konchoq Gyaltshen và trình bày về điểm thiếu sót nầy và cầu xin Ngài thành toàn cho, và đồng thời có trao đổi với Ngài ý chỉ của kinh Chuẩn Đề và Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni. Ngài giới thiệu quyển Bardo Teachings: The Way of Death and Rebirth của Lama Lodo, và trao tặng Mạt nhân một ít sách do Ngài dịch, và hứa khả sẽ giới thiệu Mạt nhân với đức Ban Thiền nếu Mạt nhân muốn xuất gia tu học, khi cơ duyên thuận tiện… Rồi Ngài về Ấn Độ, đi đi lại lại các trung tâm Phật giáo do Ngài sáng lập trên toàn thế giới để độ sanh. Nói như vậy, không phải Mạt nhân là đệ tử của Ngài.
Sau khoảng thời gian dài nghiên cứu, Mạt nhân thấy sách này khoảng 80% giống như những điều mà mình đã biết nên khi soạn quyển Giáo Lý Bí Mật về Thân Trung Ấm, Mạt nhân lấy nó làm cái sườn để triển khai Mật giáo của Việt Nam cho có quy cũ hơn.
Tuy nhiên, sách do Lama Lodo viết có vài điểm không giống như điều mà Mạt nhân đã học, nhưng không có nghĩa là Ngài sai! Nói chung, không có khác biệt chi mấy giữa hai loại truyền thừa này. Chẳng hạn như chư Bồ tát Ba la mật (Phật mẫu) chỉ hầu cận đức Phật Chủ của mỗi Bộ chớ không có ôm nhau trong tư thế Phụ mẫu như của Phật giáo Tây Tạng chủ trương. Vả lại, kinh văn của Phật giáo Tây Tạng có sự sắp đặt chư Phật mẫu không giống như của Kim Cang Giới Mạn Đà La. Cũng như dùng chủng tử HRIH thay vì chủng tử AH, hoặc AM. Đứng trên mặt phán giáo mà xét thì giáo lý cứu độ Thân Trung Ấm của Ấn Độ và Tây Tạng thuộc Liên Hoa Bộ, còn giáo lý nầy ở Việt Nam thì thuộc Phật Bộ, cho nên chủng tử được sử dụng cũng có sai khác. Tuy nhiên, cả Liên Hoa Bộ và Phật Bộ trên bản chất vốn không khác nhau, nhưng trên phương diện độ sanh thì nó có khác biệt. Thai Tạng Giới chủ trương chỉ có ba bộ đó là Phật, Liên Hoa và Kim Cang (dựa trên kinh Đại Nhựt, thứ lớp triển chuyển), còn Kim Cang Giới lại chủ trương cả thảy ngũ bộ (dựa vào 18 Pháp Hội Du Già của Kinh Kim Cang Đảnh). Vì các điểm khác biệt kia trên bề mặt, Mạt nhân không ngần ngại chua thêm vài lời chú thích để quí Ngài tiện dịp nghiên cứu và tu tập.
Nguyên sách nói về Thân Trung Ấm ở Việt Nam đã có một bổn do Cư sĩ Liên Địch Nguyên soạn bằng Hán văn cho các cư sĩ tu theo pháp môn Tịnh độ dùng để tu học và hộ niệm, sách nầy được Sa môn Thích Quang Phú dịch ra Việt văn năm 1968. Sách nầy chỉ nói sơ lược, có lẽ Liên cư sĩ tin tưởng sự tu học của người đương thời khả dĩ lãnh hội được cho nên chỉ viết những điều khái quát.
Quyển thứ hai do dịch giả Trần Ngọc Anh chuyển dịch từ tiếng Âu Mỹ sang Quốc ngữ năm 1993 và tái bản lần thứ hai do nhà xuất bản Thế giới đảm trách. Sách nầy cũng nói sơ lược, và phạm phải rất nhiều lỗi lầm nghiêm trọng của Samaya!
Thứ nhứt là do chuyển dịch nhiều bận, nên “tam sao thất bổn.”
Thứ hai là các danh từ chuyên môn của Mật tôn bị bóp méo có lẽ bản thân dịch giả không có tu tập theo Mật pháp mà ra, chẳng hạn như: “Ngài Tổng thể Phật” chánh Phạn là “Samantabhadra” tức là đức Phổ Hiền – “Yếu tố lửa” phải dịch là “hỏa đại”, các “yếu tố” khác cũng phải dịch là “đại” – “Mẹ Không Tiến Nữ”, chánh Phạn là “dakini” trong Mật giáo Việt Nam thường dịch là “Mẫu kiết ni”. “Thực tại Mẫu, Thực Tại Hậu Duệ” đã là thực tại thì làm sao có mẹ và con? “Thiên thể” để chỉ cho các “bậc thần linh”! Chữ “thực trạng”, “tình trạng” phải được thay thế bằng “cảnh giới.” “Thánh Thể Cha Mẹ”, “Cha Mẹ Bạt Già Phạm”? – “Sư Tử ở nước” phải dịch là “con sấu”… Nhưng, ở đây Mạt nhân không phải làm cái chuyện bình phẩm người và sách, nhưng nghĩ thương cho dân Việt vốn không biết, nay lại bị những sự sai lầm gieo trong tâm thức thì thật là tội biết dường bao!
Vẫn biết rằng viết sách Mật tông là một sự liều lĩnh, nhưng vì muốn lợi ích cho hết thảy dân Việt, và cũng để đền đáp công ơn dạy dỗ của cố Hòa thượng Thường Huệ và A xà lê Viên Đức, Mạt nhân quyết định thành lập tác phẩm có một không hai nầy cho Việt Nam. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Mật tông Việt Nam, quyển Giáo Lý Bí Mật về Thân Trung Ấm được thành toàn, nhưng Mạt nhân không hướng dẫn quí Ngài tái sanh trở lại kiếp người, chỉ hy vọng quý Ngài đạt được sự giải thoát viên mãn.
Chư sư người Tây Tạng đã có truyền thống tái sanh, quí Ngài muốn chứng minh cùng thế giới rằng tái sanh là chuyện thật, không phải là ức đoán của hạng cuồng ngu. Ai muốn trở lại cõi nầy tu tập, hoặc dìu dắt chúng sanh thì hãy đem lòng chí thành, bỏ hết thân tâm cầu Đạo với chư chân sư Tây Tạng, vì ngày nay chư sư Tây Tạng cũng có nhiều bê bối.
Rất nhiều người cho rằng không cần phải tu tập, miễn có sách nầy đọc khi chết thì đủ để được giải thoát. Mạt nhân không đồng ý với quan điểm nầy. Phật giáo không chủ trương khoác lác, hứa hẹn suông, mà chú trọng nhứt là sự tu tập. Không tu mà được giải thoát thì chỉ có các bậc Thượng địa Đại Bồ tát thị hiện mà thôi, kỳ dư tất cả mọi người không phân biệt già trẻ, gái trai, nếu muốn giải thoát thì phi con đường tu tập, quyết không thể nào giải thoát! “Phải tự thắp đuốc lên mà đi!” “Chư Phật là Phật đã thành, chúng ta là Phật sẽ thành.” Mạt nhân chưa từng nghe, thấy có vị Phật nào không tu mà thành được đạo Vô thượng Bồ đề vậy.
Nếu có ai đọc sách nầy, nhứt tâm y pháp đây tu hành mà bị đọa lạc vào ba đường ác, tôi, Nguyễn Pram, pháp danh Thiện Thọ, pháp hiệu Pháp Định, nguyện sẽ thay thế cho mà chịu những sự đau khổ, nhẫn đến thay thế chịu khổ nhọc trong vô lượng trăm ngàn ức kiếp nơi Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, đến khi nào bậc Chánh tín kia được thành Phật, nhập Vô dư Niết bàn, thì sau đó, tôi sẽ tự vun trồng thiện căn trong vô lượng trăm ngàn vô số kiếp rốt sau sẽ được Vô thượng Bồ đề.
Mạt nhân nay thành tâm, năm vóc sát đất, cúi dâng sách Giáo Lý Bí Mật về Thân Trung Ấm đến quí Ngài ngự lãm. Sau khi nghiên cứu kỹ, xin quí Ngài hãy tự mình rút ra những điều đã được học trong sách mà viết một nghi quỹ cho riêng mình để tu tập, và dự phòng khi ra đi thân nhân biết được cách thức trợ giúp. Xin quí Ngài chớ cô phụ lòng kỳ vọng của Mạt nhân. Mong thay!
Hỡi chư Phật trong tương lai! Con nay xin qui mạng chư vị, xin thương xót con, luôn nghĩ tưởng đến con!
Soạn giả: Nguyễn Pram
Bồ tát giới tử: Thiện Thọ
Du già hành giả Pháp hiệu: Pháp Định
>>> Bài viết hay? - Nếu bạn thấy bài viết hay - hấp dẫn - thú vị - hữu ích, xin bạn ủng hộ mình 1 ít donate với nhé! Mình sẽ rất vui khi được bạn ủng hộ để ngày càng có động lực phát triển website, đem lại nhiều bài viết hay - hấp dẫn - thú vị - hữu ích để phục vụ bạn đọc miễn phí! Thank you! _()_ >>> Link donate/ủng hộ ở đây ạ: https://ohay.pro.vn/donate-cafe/






































