TỨ NIỆM XỨ CỦA BỒ-TÁT
KHÁC TỨ NIỆM XỨ CỦA THANH-VĂN RA SAO?
Soạn-giả Pram Nguyễn
Ngày 2, tháng 3, 2020
— o0o —

Cung kính đảnh lễ Từ-Phụ Tỳ-Lô-Giáo-Na Như-lai, Ứng-thân Thích-Ca Mưu-Ni Phật.
Con xin nương sức Phật, viết lên những điều sau, để phá tà-kiến trong lòng Phật-Giáo.
Sức hiểu biết của con kém khuyết, xin thùy từ gia-hộ khiến con không viết sai Thánh ý!
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni Thế-Tôn năm lần bảy lượt dạy các hàng xuất gia về Tứ Niệm Xứ, cũng đồng thời dạy cho các hàng Bồ-Tát, nhưng không hề dạy cho phàm-phu ngu muội.
BỘ TRUNG A-HÀM, Kinh số 98 – Kinh Niệm Xứ viết rất rõ như sau:
Tôi nghe như vầy.
Một thời Đức Phật du hóa tại Câu-lâu-sấu, ở Kiếm-ma-sắt-đàm, một đô ấp của Câu lâu.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Có một con đường tịnh hóa chúng sanh, vượt qua lo sợ, diệt trừ khổ não, chấm dứt kêu khóc, chứng đắc Chánh pháp. Đó là Bốn niệm xứ.
“Các Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác ở quá khứ đều đoạn trừ năm triền cái, tâm ô uế, tuệ yếu kém, lập tâm chánh trụ nơi Bốn niệm xứ, tu Bảy giác chi mà chứng quả giác ngộ Vô thượng chánh tận.
“Các Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác ở vị lai cũng đều đoạn trừ năm triền cái là thứ làm tâm ô uế, tuệ yếu kém, lập tâm chánh trụ nơi Bốn niệm xứ, tu Bảy giác chi mà chứng quả giác ngộ.
“Ta nay trong hiện tại, là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Ta cũng đều đoạn trừ năm triền cái làm tâm ô uế, tuệ yếu kém. Ta cũng lập tâm chánh trụ nơi Bốn niệm xứ, tu Bảy giác chi mà chứng quả giác ngộ Vô thượng chánh tận.
“Bốn niệm xứ là những gì? Đó là, quán thân như thân, quán thọ như thọ, quán tâm như tâm và quán pháp như pháp.
— # —
Trong khi Trường Bộ lại bỏ những điều kiện cần và đủ “đều đoạn trừ năm triền cái, tâm ô uế, tuệ yếu kém, lập tâm chánh trụ nơi Bốn niệm xứ, tu Bảy giác chi” của một người xuất-gia khi tu pháp-môn Tứ Niệm Xứ, chính vì vậy những người tu theo không hề đắc chứng Thánh-quả Sa-Môn! Nhưng, thường vọng xưng là đã chứng quả Thánh A-La-Hán, làm chủ sanh-tử!
TRƯỜNG BỘ, Kinh số 22. Đại Niệm Xứ
1. Một thời, Thế Tôn ở xứ Kuru, (Câu lâu). Kammàssadhamma (Kiềm ma sắt đàm) là đô thị của xứ Kuru. Rồi Thế Tôn gọi các vị Tỷ kheo: “Này các Tỷ kheo.” Các Tỷ kheo trả lời Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn.” Thế Tôn nói như sau:
– Này các Tỷ kheo, đây là con đường độc nhất, đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu bi, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh lý chứng ngộ Niết bàn. Đó là Bốn niệm xứ.
Thế nào là bốn? Này các Tỷ kheo, ở đây vị Tỷ kheo sống, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời.
— # —
Ai là người có học-thức (chưa nói đến có trí) nhìn xem hai bản Kinh đã thấy sai khác như trời với vực vậy!
Nay đem cái tri-kiến thô-thiển cái ác-ý ra mà vấn-nạn ngu nầy thật là
1) Vũng nước chân trâu mà muốn sáng cùng đại hải!
2) Ngọn đuốc trước gió muốn tranh sáng cùng Thái dương!
3) Con chim hồng chim hộc muốn tung cách so bì cùng Kim Súy Điểu!
Ta nay đại phát từ bi, vén mở mắt cho quần manh!
Hãy tịnh tâm, lắng lòng giữ ý, khéo nghe
ĐẠI BỒ-TÁT TỨ NIỆM XỨ
Kinh viết,
Thưa Tôn-giả Xá-Lợi-Phất! Đại Bồ-Tát Tứ niệm xứ cũng chẳng thể tận.
Thế nào là Bồ-Tát Tứ niệm xứ vô-tận?
1) Bồ-Tát ấy quán thân tu thân hành, thấy các thân quá-khứ, vị-lai, hiện-tại điên-đảo, hòa hiệp. Như các vật ngoài những tường vách, ngói đá, cỏ cây theo nhơn-duyên mà có, chẳng thể trưởng-dưỡng, không có chỗ hệ-thuộc.
2) Thân nầy theo nhơn-duyên sanh chẳng thể trưởng-dưỡng, không có hệ-phược cũng như vậy. Trong ấm giới nhập ấy, ngã và ngã-sở rỗng không (sunyata), thường và vô-thường rỗng không.
3) Thân ấy không có ngã và ngã-sở.
4) Thân ấy chẳng vững bến, chẳng thể dựa nhờ.
Nên cầu thân Bồ-đề Chánh-giác. Thế nào là thân Bồ-đề Chánh-giác? – Đó là
1) là Pháp-thân (Dharmakaya),
2) là thân Kim cương (Vajrakaya), thân chẳng thể hư hoại,
3) là thân vững chắc,
4) là thân ra khỏi tam-giới [Dục, Sắc và Vô-Sắc].
5) Thân nầy của ta dầu có vô-lượng tội-lỗi, nhưng ta nguyện sẽ trừ diệt thành thân Như-Lai.
Bồ-Tát ấy sở dĩ kiên-nhẫn ở lâu nơi thân tứ đại, các kiết khổ-hoạn là vì lợi-ích chúng-sanh vậy. Như sự vật ngoài, những thứ tứ đại (địa, thủy, hỏa, phong) các thứ pháp-môn, các thứ sở-tác, các thứ hình mạo, các thứ khí-vật, các thứ sở-dụng đều vì lợi ích tất-cả chúng-sanh. Nay thân ta vì lợi ích chúng-sanh cũng như vậy.
Đại Bồ-Tát thấy sự lợi-ích lớn như vậy rồi,
1) quán thân các sự khổ-não mà chẳng sanh nhàm lìa,
2) quán thân vô-thường mà chẳng nhàm sanh-tử,
3) quán thân vô-ngã mà chẳng bỏ giáo-hoá,
4) quán thân tịch-diệt mà chẳng theo nơi xả.
Bồ-Tát ấy lúc quán nội thân chẳng sanh phiền-não, lúc quán ngoài thân cũng chẳng sanh phiền-não.
Bồ-Tát ấy rời lìa thân nghiệp đen nhơ mà thành thân nghiệp trắng sạch, có đủ diệu tướng để tự trang-nghiêm, ở trong Nhơn, Thiên có nhiều lợi-ích. Đây gọi là Bồ-Tát quán thân mà tu thân hành.
Thế nào là Bồ-Tát quán thọ tu thọ-hành? – Bồ-Tát tư duy như vầy:
1) Các thọ tất-cả đều khổ, Bồ-Tát khéo phân-biệt thọ, trí-huệ suy-lường biết thọ tịch-diệt.
2) Lúc thọ lạc chẳng tham sở-dục, lúc thọ khổ quán ba ác đạo khởi lòng đại bi chẳng sanh giận hờn, lúc thọ bất khổ bất lạc chẳng khởi ngu si.
Bồ-Tát chánh niệm thọ xứ, như chỗ được thọ hoặc vui hoặc khổ hay chẳng vui chẳng khổ, nơi các thọ như vậy biết xuất phát, biết tu-tập.
Bồ-Tát quán chúng-sanh thọ tịch diệt trang nghiêm, các chúng-sanh ấy ở trong các thọ chẳng biết xuất tu, nên
1) lúc họ thọ lạc sanh lòng tham-trước,
2) lúc thọ khổ sanh lòng giận hờn,
3) lúc thọ chẳng vui chẳng khổ sanh lòng ngu si.
Nay ta cần phải tiến tu trí-huệ trừ tất-cả thọ, phát các thiện-căn, khởi tâm đại-bi nhiếp lấy trí-huệ, cũng vì chúng-sanh trừ dứt các thọ mà vì họ thuyết-pháp.
Kẻ chưa biết thọ thì thọ khổ, người hiểu được thọ thì thọ vui.
Thế nào là hiểu thọ? – Đó là
1) Không có thọ-giả, không có ngã, nhơn, chúng-sanh, thọ- mạng, dưỡng-dục, sĩ-phu (pudgala: ngã-sở).
2) Diệt trừ kẻ nhiếp thủ thọ, kẻ nhiếp, kẻ thọ lấy, kẻ thọ thọ, kẻ thọ có, kẻ thọ điên đảo, kẻ thọ phân biệt, kẻ thọ các kiến-chấp, kẻ thọ tướng nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, kẻ thọ tướng sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, thọ nhãn duyên sắc sanh xúc, thọ khổ lạc bất khổ bất lạc, thọ nhĩ duyên thanh sanh xúc thọ khổ lạc bất khổ bất lạc, thọ tỷ duyên hương sanh xúc thọ khổ lạc bất khổ bất lạc, thọ thiệt duyên vị sanh xúc thọ khổ lạc bất khổ bất lạc, thọ thân duyên xúc sanh giác xúc thọ khổ lạc bất khổ bất lạc, thọ ý duyên pháp sanh xúc thọ khổ thọ lạc bất khổ bất lạc. Đây gọi là thọ.
3) Còn có một thọ, đó là giác-liễu (biết rốt-ráo) tứ đại.
4) Còn có hai thọ, đó là nội thọ, ngoại thọ.
5) Còn có ba thọ, đó là quá khứ, vị-lai và hiện-tại thọ.
6) Còn có bốn thọ, đó là giác-liễu tứ đại.
7) Còn có năm thọ, đó là tư-duy ngũ ấm.
8) Còn có sáu thọ, đó là phân-biệt lục nhập.
9) Còn có bảy thọ, đó là thất thức trụ xứ.
10) Còn có tám thọ, đó là tám tà pháp vậy.
11) Còn có chín thọ, đó là chín xứ địa của chúng sanh.
12) Còn có mười thọ, đó là mười bất thiện pháp.
Tóm lại nói thì vô-lượng chúng-sanh có những tư-duy, thọ cảnh-giới sở-duyên tất-cả đều gọi là thọ. Ở trong đó, Bồ-Tát tu thọ quán-hạnh, khởi đại trí-huệ, biết các chúng-sanh thiện hay bất thiện, tướng sanh trụ diệt của họ. Đây gọi là Bồ-Tát chánh-thọ niệm xứ mà chẳng thể cùng tận.
Thế nào là Bồ-Tát quán tâm niệm xứ?
1) Tâm Bồ-đề chẳng quên chẳng mất, chánh-niệm chẳng loạn quán tâm như vậy.
2) Tâm sanh rồi diệt không có tướng trụ. Tâm ấy chẳng trụ ở trong cũng chẳng từ ngoài đến.
3) Lúc ta ban sơ phát tâm Bồ-đề ấy, tâm ấy đã tận quá-khứ biến khác, nó chẳng đến chỗ nào, không có trụ xứ, chẳng thể tuyên nói. Nếu tâm có tập-họp các thiện căn, nó cũng là quá khứ tận diệt biến khác, nó chẳng đến chỗ nào chẳng thể tuyên nói, không có trụ xứ.
4) Nếu tâm thiện-căn hồi-hướng Vô- thượng Bồ-đề cũng là pháp diệt tận biến khác, chẳng đến chỗ nào, chẳng thể tuyên nói, không có trụ xứ.
5) Tâm chẳng biết tâm, tâm chẳng thấy tâm, tâm chẳng sanh tâm, ta dùng tâm nào thành Vô-thượng Bồ-đề?
6) Tâm Bồ-đề ấy chẳng cùng tâm thiện-căn hiệp. Tâm thiện-căn ấy chẳng cùng tâm hồi-hướng hiệp. Tâm hồi-hướng chẳng cùng tâm Bồ-đề hiệp.
Nếu lúc quán tâm như vậy mà Bồ-Tát chẳng kinh chẳng bố, đây gọi là Bồ-Tát cần tinh-tiến vậy.
Bồ-Tát lại tư-duy quán thậm thâm thập nhị nhơn duyên chẳng mất nhơn quả. Biết tâm-tánh ấy thuộc các nhơn-duyên, chẳng thể trưởng-dưỡng không có tác, không hệ thuộc, như tâm tất-cả các pháp cũng như vậy, như pháp tu-hành, như chỗ được trang- nghiêm. Nay ta phải chuyên cần tu-tập trang-nghiêm chẳng lià tâm tánh?
Thế nào là tâm-tánh và thế nào là trang-nghiêm?
1) Tâm tánh ấy dường như ảo hoá, không có chủ không có tác, không có thi thiết. Trang-nghiêm ấy, chỗ làm bố-thí đều đem hồi-hướng, trang-nghiêm thanh-tịnh Phật-độ.
2) Tâm tánh ấy dường như cảnh được thấy trong mộng, tâm tướng tịch-diệt. Trang-nghiêm ấy, thanh-tịnh Trì-giới tu-tập các thần-thông.
3) Tâm tánh ấy như tượng trong gương, tướng nó thanh-tịnh. Trang-nghiêm ấy, nhẫn-nhục được tu, đều hồi-hướng Vô-sanh Pháp Nhẫn.
4) Tâm tánh ấy như dương-diệm (ánh lửa) cứu-cánh tịch diệt. Trang-nghiêm ấy nơi các thiện pháp thâm phát tinh-tiến hồi hướng đầy-đủ vô-thượng Phật-pháp.
5) Tâm tánh ấy không có sắc, không có đối, không có chỗ tạo-tác. Trang-nghiêm ấy tất-cả chỗ tu thiền-định, giải-thoát, tam-muội, hồi-hướng đầy-đủ Phật thiền-định.
6) Tâm tánh ấy chẳng thể thấy được cũng chẳng thể lấy được. Trang-nghiêm ấy nơi tất-cả chỗ gạn hỏi đều khéo phân-biệt, hồi-hướng đầy-đủ Phật trí-huệ.
7) Tâm tánh ấy không có duyên thì chẳng sanh. Trang-nghiêm ấy thường quán thiện-căn.
8) Tâm tánh ấy không có nhơn thì chẳng sanh. Trang-nghiêm ấy nhơn trợ Bồ- đề mà phát khởi tâm.
9) Tâm tánh ấy bỏ lìa lục trần thì không chỗ khởi. Trang-nghiêm ấy nhập Phật cảnh-giới.
Bồ-Tát quán tâm-hành ây như vậy nhiếp niệm thần-thông. Được thần-thông rồi có thể biết tất-cả chúng-sanh các tâm. Đã biết tâm họ rồi tùy theo tâm-lượng ấy mà vì họ thuyết-pháp.
Bồ-Tát lại quán tâm-hành nhiếp niệm đại-bi giáo-hoá chúng-sanh không có nhàm mỏi.
Bồ-Tát lại quán tâm-hành chẳng khởi tướng tận diệt biến khác, chẳng bỏ sanh-tử tương-tục phiền-não. Chánh niệm tâm ấy biết không có sanh khởi thành chánh quyết- định.
Hành-giả như vậy chẳng sa vào Thanh-Văn địa, Bích-Chi-Phật địa, tột thế-lực tâm ấy dùng Nhứt-Niệm Trí thành Vô-thượng Bồ-đề. Đây gọi là Bồ-Tát chánh tâm niệm xứ mà chẳng thể tận.
Thưa Tôn-giả Xá-Lợ-Phất! Thế nào là Bồ-Tát quán pháp niệm xứ? – Bồ-Tát thường dùng huệ-nhãn thấy tất-cả pháp đến lúc ngồi đạo-tràng không có giữa chừng mất.
Đương lúc quán pháp như vậy, Bồ-Tát ấy chẳng thấy một pháp, nhẫn đến tướng vi-tế lìa không, vô-tướng, vô nguyện, vô-tác, vô-sanh, vô diệt, vô vật, cũng chẳng thấy một pháp nhẫn đến tướng vi-tế chẳng nhập vào thập nhị nhơn-duyên.
Bồ-Tát quán pháp thấy các phi-pháp không gì chẳng phải là pháp.
1) Thế nào là pháp? -Đó là nghĩa vô-ngã, vô-nhơn, vô chúng-sanh, vô thọ-mạng, đây gọi là pháp.
2) Thế nào là phi-pháp? Đó là ngã-kiến, nhơn-kiến, chúng-sanh kiến, thọ-mạng kiến, đoạn-kiến, thường-kiến, hữu-kiến, vô-kiến, đây gọi là phi-pháp.
Còn nữa, tất-cả là pháp, tất-cả là phi-pháp. Tại sao vậy?
1) Quán không, vô-tướng, vô- nguyện, đây gọi là tất-cả pháp là pháp.
2) Ngã-mạn, kiêu-mạn ngã và ngã-sở nhiếp lấy các kiến, đây gọi là tất-cả pháp là phi-pháp.
Lúc quán pháp, Bồ-Tát ấy chẳng thấy có pháp chẳng phải là nhơn Bồ-đề, nhơn xuất thế đạo. Bồ-Tát ấy biết tất-cả pháp đều là xuất-thế được vô-ngại đại-bi.
Bồ-Tát ấy quán tất-cả pháp phiền-não, kiết-phược như tướng ảo hoá. Biết các pháp ấy chẳng phải có phiền-não, chẳng phải không phiền-não. Tại sao vậy? – Vì Bồ-Tát ấy tỏ biết các pháp nghĩa không có hai tánh, các phiền-não ấy không có chỗ ẩn-tàng không có tụ-tập. Nếu hiểu phiền-não thì hiểu Bồ đề. Như phiền-não tánh tức Bồ-đề tánh.
Bồ-Tát ấy an-trụ chánh-niệm không có một pháp có thể đem phân-biệt được, không có các chướng-ngại khéo hay hiểu rõ chánh trụ Pháp-tánh. Như trụ Pháp-tánh tức trụ chúng-sanh tánh. Như trụ chúng-sanh tánh tức trụ hư-không tánh. Như trụ hư- không tánh tức trụ Nhứt-thiết Pháp-tánh.
Lúc quán pháp, Bồ-Tát y cứ Phật-pháp hiểu tất-cả pháp tức là Phật-pháp, tâm Bồ-Tát lúc ấy chẳng sanh Tận Trí vô-vi. Dầu tận mà cũng chẳng tận, nhập vào Vô-sanh Trí, cũng quán chúng-sanh chẳng bỏ giả danh.
Pháp niệm xứ ấy, an trụ chánh niệm tất-cả các pháp, đó là Thanh-Văn, Duyên-Giác, Bồ-Tát chánh-giác chỗ biết tất-cả giả danh các pháp tận vị-lai tế trọn không quên mất.
Pháp niệm xứ ấy, nói vô-lượng hành thân-cận Phật-pháp, hoại các Ma-chúng được Tự-nhiên Trí [Phật-Trí].
Đây gọi là Bồ-Tát chánh-pháp niệm xứ mà chẳng thể tận.
Xem thêm: BÁT THÁNH ĐẠO THẬT SỰ RA SAO?
Pram Nguyễn
>>> Bài viết hay? - Nếu bạn thấy bài viết hay - hấp dẫn - thú vị - hữu ích, xin bạn ủng hộ mình 1 ít donate với nhé! Mình sẽ rất vui khi được bạn ủng hộ để ngày càng có động lực phát triển website, đem lại nhiều bài viết hay - hấp dẫn - thú vị - hữu ích để phục vụ bạn đọc miễn phí! Thank you! _()_ >>> Link donate/ủng hộ ở đây ạ: https://ohay.pro.vn/donate-cafe/








































